Thứ 4, 20/10/2008
Một số nhận xét hệ thống xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ lọc sinh học nhỏ gọt cải tiến của viện công nghệ môi trường  (19/03/2012)
Nước thải bệnh viện bao gồm nước thải sinh hoạt của cán bộ công nhân viên, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và nước thải của hoạt động khám chữa bệnh, xét nghiệm tại các khoa phòng. Nước thải sinh hoạt có đặc tính chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học (đại diện bởi thông số BOD5), lượng chất rắn lơ lửng lớn. So với tổng lượng nước thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt chiếm tới 80%.

 

MỘT SỐ NHẬN XÉT HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN

 THEO CÔNG NGHỆ LỌC SINH HỌC NHỎ GIỌT CẢI TIẾN

CỦA VIỆN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG

                                                                                   TS . Lý Ngọc Kính, TS. Dương Huy Liệu

và BS. Nguyễn Văn Đoàn

 

 

I. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN:

          Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước ta. Trong những năm vừa qua, các bệnh viện không những được phát triển về số lượng mà còn được nâng cao cả về chất lượng phục vụ. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của hệ thống bệnh viện còn gặp nhiều bất cập, bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải; Song kinh phí cho đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng còn hạn hẹp, đặc biệt là hệ thống xử lý chất thải độc hại nguy hiểm chưa hoàn thiện, chưa đảm bảo theo yêu cầu quy định của luật môi trường, nhất là hệ thống xử lý nước thải, lượng nước thải được sinh ra ngày càng nhiều, tỷ lệ thuận với sự gia tăng về số bệnh nhân, gây ra tình trạng ô nhiễm ngày càng trở lên phức tạp. Trước tình hình đó, Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 43/2007/QĐ - BYT ngày 30/11/2007 về việc Ban hành “Quy chế quản lý chất thải y tế”. Trong quyết định này có nêu rõ các cơ sở khám chữa bệnh nhất thiết phải được trang bị các hệ thống xử lý chất thải y tế nguy hại (rắn và lỏng) đồng bộ. Nhiều bệnh viện công lập cũng như ngoài công lập trong phạm vi toàn quốc đã được đầu tư trang bị hệ thống xử lý nước thải, có nhiều công nghệ khác nhau, do vậy giá thành khác nhau, diện tích mặt bằng sử dụng cũng khác nhau và đặc biệt là chất lượng nước thải đầu ra khác nhau…

1. Đặc tính chung của nước thải bệnh viện

Nước thải bệnh viện bao gồm nước thải sinh hoạt của cán bộ công nhân viên, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và nước thải của hoạt động khám chữa bệnh, xét nghiệm tại các khoa phòng.

Nước thải sinh hoạt có đặc tính chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học (đại diện bởi thông số BOD5), lượng chất rắn lơ lửng lớn. So với tổng lượng nước thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt chiếm tới 80%.

Đáng chú ý của nước thải bệnh viện là nước thải của hoạt động khám chữa bệnh và nước thải của phòng xét nghiệm. Đặc điểm của nước thải này là chứa rất nhiều vi sinh vật, nhất là vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu vàng (82,5%), trực khuẩn mủ xanh (14,62%) E.coli (51,61%), Enterobacter (19,36%),... Đây đều là những vi khuẩn không được phép thải ra ngoài môi trường. Ngoài ra, nước thải này còn chứa nhiều hóa chất độc hại, kháng sinh, các hợp chất halogen dùng trong các phòng thí nghiệm, điều trị bệnh nhân ung thư,… các nguyên tố phóng xạ dùng trong điều trị và phòng chụp X - Quang. Tất cả lượng nước thải độc hại, nguy hiểm này đều xả thải chung vào hệ thống nước thải của bệnh viện.  Do vậy, nước thải bệnh viện nếu không có biện pháp xử lý hữu hiệu sẽ làm gia tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Qua khảo sát thực tế nhiều bệnh viện, thành phần của nước thải thường ở mức sau:

Bảng 1: Đặc trưng thành phần nước thải bệnh viện

TT

Thông số

Đơn vị

Khoảng giá trị

Giá trị điển hình

TCVN

7382 - 2004 (mức II)

QCVN

28:2010/BTNMT (cột B)

1

BOD5

mg/l

120 - 250

170

30

50

2

COD

mg/l

150 - 350

300

-

100

3

SS

mg/l

100 - 200

180

100

100

4

Amoni (tính theo N)

mg/l

30 - 60

40

10

10

5

Phosphat (tính theo P)

mg/l

10 - 30

25

6

10

6

Coliform

MPN/100ml

106 - 109

106 - 107

5000

5000

 

Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trường do nước thải bệnh viện gây ra là các chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng của nitơ (N), phốt pho (P), các chất rắn lơ lửng và các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh. Các chất hữu cơ có trong nước thải làm giảm lượng ôxy hòa tan trong nước, ảnh hưởng tới đời sống của động, thực vật thủy sinh. Song các chất hữu cơ trong nước thải dễ bị phân hủy sinh học, hàm lượng chất hữu cơ phân hủy được xác định gián tiếp thông qua nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD) của nước thải. Thông thường, để đánh giá độ nhiễm bẩn chất hữu cơ có trong nước thải, người ta thường lấy trị số BOD. Các chất dinh dưỡng của N, P gây ra hiện tượng phú dưỡng nguồn tiếp nhận dòng thải, ảnh hưởng tới sinh vật sống trong môi trường thủy sinh; các chất rắn lơ lửng gây ra độ đục của nước, tạo sự lắng đọng cặn làm tắc nghẽn cống và đường ống, máng dẫn. Nước thải bệnh viện rất nguy hiểm vì chúng là nguồn chứa các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh, nhất là các bệnh truyền nhiễm như thương hàn, tả, lỵ ... làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Ngoài ra nước thải các bệnh viện còn có một số kim loại nặng với hàm lượng nhỏ như: mangan, đồng, thủy ngân, crôm, ... Các kết quả phân tích các kim loại nặng trong nước thải bệnh viện thường cho thấy hàm lượng các kim loại này đều nhỏ hơn qui chuẩn cho phép (QCVN 24:2009/BTNMT).

2. Xác định nguồn thải cần xử lý

Nhằm giảm thiểu lượng nước thải cho hệ xử lý, giảm chi phí đầu tư giảm chi phí xử lý và nhằm đảm bảo cho hệ thống xử lý hoạt động ổn định và đạt hiệu quả cao, cần tách riêng nước mưa và nước thải thành các dòng riêng biệt:

- Nước mưa, nước mặt chảy tràn cần được thu gom riêng vào hệ thống cống thoát nước mặt riêng biệt. Nước từ hệ thống cống này sẽ được xả thằng ra mương thoát nước.

- Nước thải từ các khoa, phòng bao gồm cả nước thải sinh ra trong quá trình khám chữa bệnh và nước thải sinh hoạt của các cán bộ công nhân viên, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân được thu gom dẫn theo đường ống riêng đến khu xử lý nước thải theo sơ đồ sau:

Hình 1: Sơ đồ nguyên tắc phân nguồn nước thải bệnh viện

II. MỤC TIÊU:

Nhận xét thực trạng hiệu quả xử lý và mức độ phù hợp với điều kiện Việt Nam của hệ thống xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ Lọc sinh học nhỏ giọt cải tiến của Viện Công nghệ môi trường theo các tiêu chí kinh tế - kỹ thuật khác nhau.

          III. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ:

3.1. Nội dung đánh giá:

 Nhận xét Hệ thống xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ Lọc sinh học nhỏ giọt cải tiến của Viện Công nghệ môi trường theo các tiêu chí kinh tế - kỹ thuật.

3.2. Các chỉ số đánh giá:

1. Đạt tiêu chuẩn môi trường TCVN 7382 - 2004, mức II.

Các chỉ tiêu pH, COD, BOD, SS, TN, TP, Coliform đánh giá thông qua 4 mẫu.

2. Đánh giá về chỉ tiêu kinh tế:

2.1. Chi phí đầu tư:

Tính theo định mức trên đơn vị giường bệnh.

2.2. Chi phí vận hành: Số tiền/m3 xử lý

Bao gồm:     - Chi phí điện, nước;

                   - Chi phí hóa chất;

                   - Chi phí nhân công;

                   - Chi phí bảo hành, bảo dưỡng;

3. Đánh giá khả năng ứng dụng, mở rộng:

- Có dễ dàng nâng cấp, tăng công suất hay không?

4. Đánh giá gây ô nhiễm thứ cấp: (4 mẫu)

- Có gây nên tiếng ồn hay không? Độ ồn;

- Có phát tán mùi hay không? H2S, CH4;

5. Đánh giá tính ổn định của thiết bị, độ bền, tính dễ dàng thay thế, chi phí bảo hành bảo dưỡng có cao không?

3.3. Phương pháp nghiên cứu:

- Nhóm nghiên cứu gồm: Một số cán bộ thuộc Hội Khoa học kinh tế y tế Việt Nam và Trung tâm kỹ thuật 1 – Tổng Cục chất lượng đo lường;

-           Quan trắc, phân tích các mẫu nước thải;

-           Điều tra, thu thập thông tin bằng phiếu thu thập thông tin bao gồm: Phiếu thu thập thông tin, phiếu phỏng vấn trực tiếp cán bộ kỹ thuật hệ thống xử lý nước thải, Phỏng vấn cán bộ lãnh đạo bệnh viện;

-           Thời gian, xây dựng, giá thành, độ ổn định, độ bền…

-           Phương pháp đánh giá: đánh giá hiện trạng về các chỉ tiêu ảnh hưởng đến môi trường, chi phí, vận hành, diện tích sử dụng.

-           Thảo luận nhóm giữa cán bộ nghiên cứu và cán bộ phụ trách vận hành Hệ thống xử lý nước thải, lãnh đạo bệnh viện

3.4. Đơn vị đánh giá:

-           Bệnh việc C - Thái Nguyên;

-           Bệnh viện A – Thái Nguyên;

-           Bệnh viện Đa khoa Quỳnh phụ - Thái Bình;

3.5. Thời gian thực hiện: Từ 5/8/2011 đến 15/9/2011

IV. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI THEO CÔNG NGHỆ LỌC SINH HỌC NHỎ GIỌT:

4.1. Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ Lọc sinh học nhỏ giọt của Viện Công nghệ môi trường

Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện của Viện Công nghệ môi trường lựa chọn, phát triển và cải tiến là công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt cải tiến.

Lọc sinh học nhỏ giọt là loại bể lọc sinh học với vật liệu tiếp xúc không ngập nước. Để đến được lớp vật liệu lọc, nước thải được chia thành các dòng nhỏ chảy thành lớp mỏng qua khe hở của vật liệu đồng thời tiếp xúc với màng sinh học trên bề mặt vật liệu lọc, nhờ sự có mặt của các vi sinh vật trên lớp màng vật liệu mà các chất hữu cơ và chất dinh dưỡng trong nước thải được làm sạch.

Quá trình phân hủy bởi vi sinh vật cần cung cấp oxy. Ở các kỹ thuật lọc sinh học khác cần thiết phải cấp không khí bằng máy thổi khí. Trong kỹ thuật của Viện Công nghệ Môi trường việc cấp không khí xảy ra do đối lưu tự nhiên dựa trên nguyên lý ejector do có sự thoát khí CO2 và hơi nước – sản phẩm của quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong thiết bị sinh học. Việc sử dụng tháp lọc sinh học nhỏ giọt cấp khí tự nhiên sẽ kéo theo hàng loạt ưu thế của công nghệ này so với các công nghệ lọc sinh học truyền thống, đó là:

 i). Chi phí đầu tư thấp hơn do không phải đầu tư máy thổi khí;

ii). Chi phí vận hành thấp hơn vì không phải cung cấp điện năng cho các máy thổi khí;

 iii). Phù hợp với những cơ sở thường xuyên mất điện vì quá trình phân hủy vẫn tiếp diễn do không khí vẫn tự hút vào tháp mà không cần máy thổi khí;

iv). Bảo hành bảo dưỡng đơn giản và chi phí thấp;

v). Giảm xuất đầu tư đất đai vì là tháp không tích nước nên khối lượng tháp không lớn, vì thế có thể lắp đặt trực tiếp trên nắp bể chứa nước thải;

vi). Không phát sinh mùi ô nhiễm thứ cấp vì là tháp kín;

         vii). Dễ dàng nâng cấp tăng công suất xử lý;

 viii).  Tính ổn định và độ bền cao vì tháp lọc sinh học được chế tạo bằng thép inox và vật liệu đệm sinh học được chế tạo từ nhựa cứng nên có độ bền từ 15-20 năm.

 

 

 

 

 

 

 

 


Hình 2: Công nghệ xử lý nước thải bằng lọc sinh học nhỏ giọt

Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện bằng phương pháp lọc sinh học nhỏ giọt bao gồm các phần chính như sau:

Chắn rác: Nước thải thường chứa lẫn các tạp vật thô như rác, cành, lá cây ... Các tạp vật thô này cần được loại ra trước khi đưa nước thải vào hệ xử lý nhằm tránh làm hỏng hóc bơm và làm tắc đường ống. Với mục đích như vậy, nước thải được đưa qua song chắn rác đặt trong hố thu nước thải để loại bỏ các tạp vật có kích thước lớn rồi đưa sang bể điều hoà. Rác bị song chắn giữ lại thu xuống giỏ gom rác, định kỳ được lấy ra đưa đến nơi xử lý rác của bệnh viện.

Bể điều hoà: Bể điều hoà có chức năng chứa nước thải, điều hoà lưu lượng, pH và nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải. Tại đây, nước thải được khuấy trộn chống lắng cặn và làm thoáng sơ bộ nhờ sục khí. Nước thải từ bể chứa điều hoà được bơm lên tháp keo tụ lắng

Tháp keo tụ – lắng: Từ bể điều hoà, nước thải được bơm vào ngăn trộn keo tụ. Hóa chất cần thiết (ở đây dùng chất keo tụ PAC) được đưa vào nhờ bơm định lượng và khuấy trộn đều với nước thải bằng cơ cấu trộn thủy lực. Tại đây các bông keo tụ được hình thành và lắng xuống đáy bể. Để tăng cường quá trình phát triển của bông keo tụ, tại đây có thể đưa thêm chất trợ keo tụ Polymer vào buồng phản ứng tạo bông ở giữa bể lắng. Trong vùng lắng của bể, các hạt cặn lơ lửng có trong nước thải sẽ liên kết với các bông keo tụ làm cho kích thước của chúng ngày càng lớn và dưới tác dụng của trọng lực sẽ bị lắng xuống dưới đáy bể. Nước trong sau lắng tràn vào máng thu nước, theo đường ống dẫn chảy vào bể xử lý lọc sinh học. Cặn bùn lắng xuống đáy bể định kỳ xả về bể chứa bùn qua đường ống xả bùn lắp ở đáy bể.

Tháp lọc sinh học nhỏ giọt: tháp lọc sinh học nhỏ giọt được nhồi vật liệu lọc, nhưng nước thải được tưới từ trên đỉnh tháp, chảy thành màng trên bề mặt vật liệu lọc xuống dưới đáy tháp, do đó vật liệu lọc không ngập trong nước. Quá trình cấp khí cũng cần thiết, tuy nhiên có thể cấp khí theo phương thức đối lưu tự nhiên mà không cần cấp khí cưỡng bức.

Lắng thứ cấp: Nước ra khỏi thiết bị xử lý sinh học được ống dẫn đưa sang bể lắng thứ cấp để tách bùn ra khỏi nước. Với công nghệ cải tiến này không cần tuần hoàn bùn về thiết bị xử lý sinh học mà toàn bộ lượng bùn lắng ở đây được đưa qua bể phân hủy bùn.

Khử trùng: Sau bể lắng thứ cấp, nước thải được đưa qua bể khử trùng để tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh trước khi xả vào cống thoát nước chung của toàn bệnh viện. Chất khử trùng được sử dụng là dung dịch nước Javen được điện phân từ dung dịch muối loãng bằng thiết bị ECAWA của Viện Công nghệ Môi trường. Chính vì vậy chi phí khử trùng rất thấp và bệnh viện hoàn toàn chủ động hóa chất khử trùng, không phải mua từ các cơ sở sản xuất hóa chất khác.

Xử lý bùn: Bùn phát sinh trong quá trình xử lý được đưa về bể phân hủy bùn. Bể xử lý bùn được thiết kế dưới dạng bể tự hoại 2 ngăn nhằm làm giảm đến mức tối thiểu lượng bùn cặn tạo ra. Định kỳ thuê Công ty Vệ sinh môi trường hút cặn mang đến nơi chôn lấp theo qui định. Nước tách ra trong quá trình xử lý bùn được tuần hoàn trở lại bể chứa - điều hoà để xử lý lại.

Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện của Viện Công nghệ môi trường tuân theo nguyên lý của công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt nhưng có những cải tiến. Cải tiến tập trung vào tháp lọc sinh học nhỏ giọt với hệ thống thông khí tự nhiên theo nguyên tắc đối lưu không khí, không phụ thuộc vào nguồn điện không ổn định hay bị cắt điện ở các địa phương hiện nay. Do vậy, nguồn vi sinh vật hiếu khí luôn tồn tại, duy trì và phát triển giúp công đoạn xử lý sinh học - công đoạn quan trọng nhất của hệ thống xử lý - luôn hoạt động.

3. Kết quả đánh giá các tiêu chi  kỹ thuật – kinh tế của hệ thống xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ Lọc sinh học nhỏ giọt cải tiến của Viện Công nghệ môi trường

Qua khảo sát hệ thống xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ Lọc sinh học nhỏ giọt cải tiến của Viện Công nghệ môi trường tại 3 bệnh viện: Bệnh viện A – Thái Nguyên, Bệnh viện C – Thái Nguyên, Bệnh viện §a khoa Quỳnh Phụ - Thái Bình cho các kết quả như sau:

3.1.         Đánh giá chất lượng xử lý

          Đoàn đánh giá đã kết hợp cùng với Tæng côc chÊt l­îng ®o l­êng – Trung t©m kü thuËt 1, Bộ Khoa học Công nghệ tiến hành lấy mẫu ở đầu vào và đầu ra của trạm xử lý nước thải tại các cơ sở bệnh viện nêu trên, phân tích các chỉ tiêu đặc trưng của nước thải y tế và so sánh với QCVN 28:2010/BTNMT. Kết quả được trình bày ở bảng dưới đây.

 

Bảng 2: Kết quả khảo sát chất lương nước thải bệnh viện

TT

Chỉ tiêu phân tích

Đơn vị tính

Phương pháp thử

Kết quả

QCVN

28:2010/BTNMT

Vào

Bệnh viện C – Thái Nguyên

Bệnh viện A – Thái Nguyên

BÖnh viÖn ®a khoa Quúnh Phô – Th¸i B×nh

Vào

Ra

Vµo

Ra

Vµo

Ra

1

pH

 

TCVN 6492:1999

7,17

7,35

1

pH

 

TCVN 6492:1999

7,17

2

COD

mgO2/L

SMEWW 5220 C- 2005

208

48

2

COD

mgO2/L

SMEWW 5220 C- 2005

208

3

BOD5

mg/L

TCVN 6001:1995

110

26

3

BOD5

mg/L

TCVN 6001:1995

110

4

TSS

mg/L

SMEWW 2540D:2005

131

28

4

TSS

mg/L

SMEWW 2540D:2005

131

5

Tổng P

mg/L

TCVN 6202:2008

0,52

2,26

5

Tổng P

mg/L

TCVN 6202:2008

0,52

6

Tổng N

mg/L

SMEWW 4500N –      C -2005

31,3

23,5

6

Tổng N

mg/L

SMEWW 4500N –      C -2005

31,3

7

* Colifrom

MPN/100mL

TCVN 6187-1:1996

64x104

3.100

7

* Colifrom

MPN/100mL

TCVN 6187-1:1996

64x104

( Kèm theo kết quả mẫu xét nghiệm của Tæng côc chÊt l­îng ®o l­êng – Trung t©m kü thuËt 1);

          Với đặc thù là ô nhiễm trong nước thải rất lớn, là một trong những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cần xử lý triệt để theo quyết định số 64/2003/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ. Sau khi lắp đặt hệ thống xử lý nước thải theo công nghệ Lọc sinh học nhỏ giọt cải tiến của Viện Công nghệ môi trường, kết quả đo, phân tích mẫu nước thải bệnh viện ở ®Çu vµo, ®Çu ra c¶ 3 bÖnh viÖn, sau khi xử lý đạt được tiêu chuẩn cho phép, tất cả các chỉ tiêu phân tích đều ®¹t yªu cÇu, so víi QCVN 28:2010/BTNMT th× c¸c chØ sè ®Òu nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn Việt Nam; Thông tư 39/2010/TT – BTNMT. Công nghệ xử lý đạt mức độ an toàn trong trường hợp có sự thay đổi về lưu lượng.

3.2.         Đánh giá về ô nhiễm thứ cấp

Để đánh giá xem Hệ thống xử lý có gây ô nhiễm thứ cấp hay không. Các chỉ tiêu về độ ồn, khí amoniac và khí Hydrosunfua được đo đạc. Các chỉ tiêu này được so sánh với Quy chuẩn Việt Nam về Chất thải độc hại trong môi trường không khí xung quanh. Kết quả quan trắc được trình bày tại bảng dưới đây

Bảng 3: Kết quả quan trắc khí thải xung quanh trạm xử lý:

        (Theo Tổng cục chất lượng đo lường – Trung tâm kỹ thuật 1)

 

TT

Ký hiệu mẫu

Kết quả

Nhiệt độ

(oC)

Độ ẩm

(%)

Độ ồn

(dB)

NH3

(àg/m3 )

H2S

(àg/m3)

1

Trên tháp xử lý sinh học

(Bệnh viện C Thái nguyên)

39,5

50

59,75

66

1

2

Trên nóc khu xử lý nước thải

(Bệnh viện A Thái Nguyên)

37,0

62

57,45

15

1

3

Trên nóc xử lý nước thải

(Bệnh viện đa khoa Quỳnh phụ Thái Bình)

35,6

65

58,3

54

2

 

QCVN 06: 2009/BTNMT

-

-

-

200

42

 

Kết quả xét nghiệm cho thấy với hệ thống không gây ảnh hưởng khÝ NH3, H2S, tiếng ồn trong khi vận hành ®Òu ®¹t kÕt qu¶ tèt, n»m trong giíi h¹n cho phép; còn hiện tượng phát tán mùi do không đậy nắp khu vực nước thu nước thải về bể, do vậy cần được thiết kế lắp đậy bể nước thu về;

3.3. Đánh giá về chỉ tiêu kinh tế:

(Theo báo cáo của các Bệnh viện: Bệnh viện A – Thái Nguyên, Bệnh viện C – Thái Nguyên và Bệnh viện Đa khoa Quỳnh Phụ Thái Bính)

Nội dung

Bệnh viện A – Thái Nguyên

(Thêi ®iÓm n¨m 2009)

(Quy m« 500 gi­êng)

Bệnh viện C- Thái Nguyên

(Thi đim n¨m 2007)

(Quy m« 500 gi­êng)

Bệnh viện Đa khoa Quỳnh Phụ - Thái Bình

(Thời điểm năm 2010)

(Quy m« 200 gi­êng)

- Tổng chi phí xây dựng và lắp đặt hệ thống

1.714.000.000đồng

(cải tạo nâng cấp)

2.255.085.000

(xây dựng mới)

1.017.000.000 đồng

(x©y dùng míi)

C«ng sut thiÕt kÕ

360m3

360m3

100m3

SuÊt ®Çu t­

Kho¶ng 5.500.000 ®/gi­êng bÖnh

Kho¶ng 5.000.000 ®/gi­êng bÖnh

Kho¶ng 6.000.000 ®/gi­êng bÖnh

Chi phí vận hành:

                  -  Điện:

                  - Nước:

                   - Hoá chất:

                   - Nhân công:

                   - Bảo dưỡng:

                   - Quả lọc:

 

191.780VND/ngày

3.400VND/ngày

131.000VND/ngày

3.000.000 đồng/tháng

20.000.000 đồng/năm

100.000đ/tháng

 

195.650 VND/ngày

32.500VND/ngày

79.100 VND/ngày

3.000.000 ®ng/th¸ng

20.000.000đồng/năm

 

 

28.125VND/ngày 562.5VND/m3

127.5VND/m3

1.500.000NVD/tháng

20.000.000 ®ång/n¨m

 

 

Kết quả trên cho thấy Hệ thống xử lý nước thải theo công nghệ Lọc sinh học có ưu điểm là:

Chi phí vận hành tương đối thấp, phù hợp, đảm bảo vận hành được khi có sự thay đổi lớn về lưu lượng cũng như nồng độ;

Đặc biệt là hoá chất (chủ yếu là muối và phèn), dễ mua, có nhiều trên thị trường Việt Nam;

Về khả năng ứng dụng, mở rộng: dễ dàng nâng cấp, tăng công suất khi cần thiết, hiện nay 2 bệnh viện: A – Thái Nguyên và Đa khoa Quỳnh Phụ Thái Bình lắp đặt chế độ tự động, nên công tác vận hành kiểm tra rất thuận lợi, đối với Bệnh viện C – Thái Nguyên, cũng cần đưa về chế độ vận hành tự động để giảm bớt khâu tác động bởi sức lao động con người và đảm bảo hoạt động thường xuyên, nhất là khi bể chứa được hút bùn thường xuyên tự động không cần bật tắt của cán bộ vận hành. Theo cán bộ kỹ thuật của Viện công nghệ môi trường, về cơ bản thiết bị kỹ thuật như các cơ sở khác, do vậy nâng cấp chuyển về chế độ hoạt động tự động dễ dàng, Viện Công nghệ môi trường cũng đã có kế hoạch nâng cấp chuyển về chế độ tự động và tập huấn lại cho cán bộ vận hành của bệnh viện để sử dụng hệ thống xử lý nước thải ngày một tốt hơn.

Hệ thống thiết bị vận hành ổn định, dễ dàng thay thế

, ít phải sửa chữa, chi phí bảo hành bảo dưỡng cụ thể, mức phí bảo tr× (20.000.000 đồng cho 1 năm với bệnh viện 500 giường bệnh);

Trong quá trình vận hành sử dụng hệ thống xử lý nước thải sau khi lắp đặt cần có đội ngũ chuyên môn kỹ thuật trực tiếp vận hành chuyên nghiệp (Bệnh viện A – Thái Nguyên và Quỳnh Phụ – Thái Bình) đã có cán bộ được hướng dẫn vận hành tốt, tuy chỉ làm việc theo chế độ bán chuyên trách, nhưng đã thực hành khá tốt, riêng bệnh viện C – Thái nguyên, cần được tập huấn kỹ hơn nữa để công tác vận hành được tốt hơn.

4. Kết luận:

          Trong điu kin hin nay, t×nh trng « nhim h thng nước thi ti c¸c bệnh viện rất nghiêm trọng, cần phải có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn Việt Nam, sau khi xử lý nước thải đưa ra ngoài môi trường không còn độ ô nhiễm cao phải đạt được Quy chuẩn Việt Nam (QCVN 28:2010/BTNMT). Qua kết quả xét nghiệm (kèm theo kết quả xét nghiệm) của Trung tâm kỹ thuật 1 – Tổng Cục đo lường Việt Nam cho thấy Hệ thống xử lý nước thải theo Công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt của Viện Công nghệ môi trường tại 3 Bệnh viện đạt các tiêu chuẩn như sau:

-           Các chỉ tiêu phân tích đều nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn Việt Nam; Thông tư 39/2010/TT – BTNMT;

-           Chất lượng nước thải sau khi xử lý đạt QCVN 28:2010/BTNMT;

-           Công nghệ xử lý mang tính tự động trong trường hợp có sự thay đổi về lưu lượng.

-           Công nghệ xử lý đơn giản, dễ vận hành, có tính ổn định;

Hiện nay, kinh phí chi cho các hoạt động của bệnh viện là rất lớn, cần được ưu tiên cho công tác khám chữa bệnh; Tuy nhiên, hệ thống xử lý nước thải cũng là vấn đề bức xúc hiện nay, nếu không được xử lý sẽ gây hậu quả lớn đến môi trường, vì vậy chúng ta cần lựa chọn công nghệ xử lý chất thải tối ưu nhất đảm bảo về chất lượng xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn  Việt Nam theo Thông tư 39/2010/TT – BTNMT và chất lượng nước thải sau khi xử lý đạt QCVN 28:2010/BTNMT; Chi phí thấp, phù hợp với khả năng của bệnh viện. Qua kÕt qu¶ kh¶o s¸t t¹i 3 bÖnh viÖn, c«ng nghÖ xö lý n­íc th¶i läc sinh häc hiÖn nay, cho thÊy kÕt qu¶ ®¹t ®­îc kh¶ quan, ®¸p øng ®­îc yªu cÇu n­íc th¶i bÖnh viÖn sau khi xö lý ®­a ra m«i tr­êng.

Trªn ®©y lµ mét sè kÕt qu¶ kh¶o s¸t c«ng nghÖ xö lý n­íc th¶i b»ng läc sinh häc cña ViÖn C«ng nghÖ m«i tr­êng thuéc ViÖn Khoa häc vµ C«ng nghÖ ViÖt Nam, chóng t«i xin giíi thiÖu ®Ó c¸c c¬ së, bÖnh viÖn, viÖn nghiªn cøu tham kh¶o.